Tổng biên tập
PGS TS NGUYỄN VĂN DỮNG
 
Tổng thư kư toà soạn
1. TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
2. TS NGUYỄN NGỌC OANH
 
Với sự tham gia của
Nhóm t́nh nguyện viên là giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Báo in, Phát thanh, Truyền h́nh, Báo mạng điện tử, thông tin đối ngoại - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
 
Mọi thông tin, ư kiến và bài viết xin gửi về
Website Báo chí với Trẻ em.
Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. 36 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Vietnam
E-mail: foj_ajc@yahoo.com




Trang nhất > Giải báo chí NB-TEVN
Làm PR cho Giải báo chí “Nhà báo với Trẻ em Việt Nam”
Cập nhật 12/21/2006 9:26:32 PM
CMVN.ORG được đánh giá nằm trong khỏang giữa của top 500.000 trên háng tỷ Web được ưa chượng nhất trên ṭan cấu, theo đánh giá của Alaxa
CMVN.ORG được đánh giá nằm trong khỏang giữa của top 500.000 trên háng tỷ Web được ưa chượng nhất trên ṭan cấu, theo đánh giá của Alaxa
Gửi cho bạn bè
In trang này
In bài này
Ư kiến của bạn
Giải báo chí NB&TEVN được truyền thông rộng răi trong xă hội, thu hút nhiều tác phẩm dự giải đến từ mọi vùng miền trong cả nước. Nói cách khác, nhờ làm tốt các hoạt động quan hệ công chúng (PR), chất lượng của Giải báo chí này được nâng lên vượt bậc, tác động và gây ảnh hưởng sâu rộng trong xă hội. Bài viết của ThS Đỗ Thị Thu Hằng, đă đăng trong tạp chí Lư luận chính trị và truyền thông tháng 11 năm 2006.

        
Giải “Nhà báo với Trẻ em VN”(NB&TEVN) làGiải báo chí được tổ chức thường niên từ năm 2003 đến nay, do Khoa Báo chí- Học viện Báo chí & Tuyên truyền, phối hợp với Ban Nghiệp vụ- Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự tài trợ của Tổ chức Trẻ em Thụy Điền (SCS). Qua 3 năm thực hiện giải, theo đánh giá của Ban tổ chức: “Giải báo chí NB&TEVN được truyền thông rộng răi trong xă hội, thu hút nhiều tác phẩm dự giải đến từ mọi vùng miền trong cả nước. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc tăng chất lượng của Giải”. Nói cách khác, nhờ làm tốt các hoạt động quan hệ công chúng, chất lượng của Giải báo chí này được nâng lên vượt bậc, tác động và gây ảnh hưởng sâu rộng trong xă hội. Quan hệ công chúng là ǵ? Khoa Báo chí đă tổ chức và thực hiện thành công các kỹ năng quan hệ công chúng cho Giải NB-TEVN như thế nào? Đó là những vấn đề mà chúng tôi muốn chia sẻ trong bài báo này.

Quan hệ công chúng là ǵ?
Quan hệ công chúng (Tiếng Anh là Public Relations, viết tắt là PR, đọc là pi-a), ở nước ta c̣n được biết đến bởi các tên gọi khác như: quan hệ công cộng, quan hệ cộng đồng, giao tế nhân sự… Đó là “một nỗ lực được lên kế hoạch và kéo dài liên tục để thiết lập và duy tŕ sự tín nhiệm, hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức và công chúng” (Định nghĩa của Viện nghiên cứu PR Anh). Hiệp hội PR thế giới th́ định nghĩa “PR là một nghệ thuật và môn học khoa học xă hội phân tích những xu hướng, dự đoán những kết quả, tư vấn cho các nhà lănh đạo của tổ chức, và thực hiện các chương tŕnh hành động đă được lập kế hoạch để thực hiện quyền lợi của tổ chức và công chúng”. Mục tiêu tổng quát nhất của PR là: thiết lập, duy tŕ mối quan hệ cùng có lợi với đông đảo công chúng, từ đó thực hiện các mục tiêu mà chính cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… hướng tới. Nói cách khác, PR tác động hoặc thay đổi nhận thức, định kiến, quan niệm…của công chúng theo một cách có lợi cho tổ chức.

Chính v́ dấu hiệu này mà nhiều người thường đồng nhất quan hệ công chúng và quảng bá thương hiệu (Thực chất quảng bá thương hiệu dù rất quan trọng nhưng cũng chỉ là một trong rất nhiều lĩnh vực của PR mà thôi. Thậm chí, theo một số nhà nghiên cứu truyền thông và quan hệ công chúng “quảng bá được coi là mô h́nh “sơ khai nhất” của quan hệ công chúng”. (Dozier.1995). Trong khi đó, mục tiêu của tiếp thị và quảng cáo là bán sản phẩm, hoặc dịch vụ được khách hàng chấp nhận. Với tiếp thị và quảng cáo, đối tượng tác động là các khách hàng tiềm năng của họ. C̣n với quan hệ công chúng, đối tượng và phạm vi liên quan lớn hơn và đa dạng hơn rất nhiều. Cụ thể hơn, làm PR cho Giải báo chí NB&TEVN không dừng lại chỉ là quảng bá h́nh ảnh/ thương hiệu của Khoa Báo chí- Học viện Báo chí Tuyên truyền, hay quảng bá cho h́nh ảnh của Hội Nhà báo Việt Nam; hoặc tổ chức tài trợ SCS, để công chúng chấp nhận sự tồn tại của Giải Báo chí này (khi làm PR th́ cũng đồng thời việc quảng bá h́nh ảnh như đă nêu trên đă được thực hiện). Hơn thế, thông qua việc cung cấp thông tin về Giải (thể lệ cuộc thi, cách thức tổ chức, tiến hành chấm giải, kết quả và hoạt động trao giải...), đối tượng tác động mà hoạt động PR hướng tới không phải chỉ là những người gửi tác phẩm dự thi mà là công chúng rộng răi trên mọi miền tổ quốc, tất cả các nhà báo chuyên nghiệp và không chuyên; cả người lớn, trẻ em... Với quảng bá thương hiệu, người ta chỉ chú ư đến công chúng bên ng̣ai, nhưng khi làm PR, nhất là với các nhân viên PR chuyên nghiệp, không mấy ai quên công chúng nội bộ. Các cán bộ- sinh viên Khoa Báo chí, đặc biệt là nhóm t́nh nguyện viên của trang thông tin điện tử “Nhà báo với Trẻ em”, các thành viên trong Ban biên tập Tạp chí Lư luận chính trị và truyền thông, “Báo chí Trẻ” là một trong những nhóm đối tượng quan trọng nhất khi tổ chức các hoạt động quan hệ công chúng của Giải.

Hai loại quan hệ công chúng: PR bên ngoài và PR nội bộ

Trong rất nhiều cách phân loại quan hệ công chúng, người ta thường nhấn mạnh cách phân loại với 2 loại chính: quan hệ công chúng bên ngoài (PR có đối tượng là công chúng ở ngoài cơ quan/ tổ chức/ doanh nghiệp...) và quan hệ công chúng nội bộ - có đối tượng là tất cả các thành viên – không trừ một ai- bên trong cơ quan/ tổ chức/ doanh nghiệp). Các chuyên gia PR thực hành thành công nhất đều nhấn mạnh vai tṛ quan trọng không kém ǵ PR bên ngoài của PR nội bộ. “Người làm PR tốt nhất cho cơ quan/ tổ chức/ doanh nghiệp của bạn chính là các nhân viên gần gũi nhất với bạn, những người đă gắn bó và tự hào về công việc, đồng nghiệp và môi trường làm việc thân thiện và chuyên nghiệp mà họ đang được hưởng”. Bà Đỗ Ḥang Yến, Giám đốc Trung tâm đào tạo Phát triển nguồn nhân lực INCENTRA, người đă từng có 8 năm rất thành công trong vị trí Giám đốc PR của tập đoàn nước giải khát Pepsi- Co tại khu vực Đông Nam Á đă khẳng định như vậy trong các khóa đào tạo PR thực hành, được tổ chức tại INCENTRA.

Ở Giải báo chí này, hoạt động PR hướng vào cả công chúng bên ngoài và công chúng nội bộ, đặc biệt là sinh viên báo chí – nhóm sinh viên t́nh nguyện của trang thông tin điện tử Báo chí với Trẻ em. Bên cạnh việc làm truyền thông thông qua mối quan hệ với báo giới (sẽ tŕnh bày cụ thể trong mục Truyền thông dưới đây), các thông tin về hoạt động của Giải được thông báo bằng truyền thông trực tiếp, đồng thời đăng tải trên Báo chí với Trẻ em (do chính các em đăng tin), tờ Báo chí Trẻ (do chính sinh viên viết) và tạp chí Báo chí và Tuyên truyền,. Các ư kiến phản hồi được ghi nhận, thảo luận trong các cuộc họp- tạo một mội trường thông tin 2 chiều. Các sự kiện luôn có sự tham gia của đại diện các khoa pḥng, đặc biệt là sinh viên báo chí. Chẳng hạn việc đưa 50 tác phẩm đă qua ṿng sơ khảo lên mạng để người truy cập nhận xét và cho điểm được có nhiều công đoạn. Trước tiên, phải nhập nội dung 50 tác phẩm đó vào chuyên mục “Tác phẩm dự thi năm 2005” để đăng tải trên Web. Việc này được thực hiện bởi Tổng biên tập, Thư kư ṭa soạn và các t́nh nguyện viên của trang Báo chí với Trẻ em. Các t́nh nguyện viên cùng nhau nhập dữ liệu, chỉnh sửa để không sai so với bản gốc của tác giả, và thông qua đó, cũng đồng thời “thẩm định” tác phẩm luôn! Những vấn đề bức xúc nhất trong cuốc sống của trẻ em, góc độ tiếp cận, kiến thức và kỹ năng nhà báo..., và thông qua đó, ư nghĩa của cuộc thi, ư nghĩa của việc tham gia cuộc thi, vị thế của nhà báo viết cho trẻ em- mục tiêu của cuộc thi được cảm nhận thấm thía ở mỗi t́nh nguyện viên. Và trong Hội đồng chấm giải, kết quả chấm giải, cách giải thích về giá trị của sự tham gia đánh giá của Ban giám khảo trẻ em, kết quả b́nh chọn trên mạng tác động sâu sắc đến các thành viên tham gia – những nhà báo, những nhà quản lư có uy tín về nghiệp vụ, có khả năng ảnh hưởng lớn đến đội ngũ các nhà báo- nhà truyền thông và ṭan xă hội. Khi nhưng nhân vật có uy tín này đă “thấu hiểu”, th́ việc tác động đến công chúng bên ngoài sẽ thuận lợi hơn nhiều.

Các lĩnh vực quan hệ công chúng được thực hiện cho Giải báo chí “NB-TEVN” ở Khoa Báo chí

Sự khác biệt lớn nhất giữa quan hệ công chúng và quảng bá h́nh ảnh chính là nội dung và các phương thức tiến tới mục tiêu tác động đến các nhóm công chúng rộng, thể hiện ở các lĩnh vực của quan hệ công chúng. Trong bài báo này, chúng tôi xin được đề cập đến việc thực hiện một số lĩnh vực cơ bản của quan hệ công chúng ở Khoa Báo chí, bao gồm: nghiên cứu công chúng, lập kế hoạch, tổ chức sự kiện, truyền thông, nghiên cứu đánh giá và tư vấn.

1. Nghiên cứu công chúng cho Giải báo chí NB-TEVN:

Đây là lĩnh vực rẩt quan trọng, là điều kiện cơ bản nhất cho mọi hoạt động quan hệ công chúng dù với mục tiêu lớn hay nhỏ; đối tượng có thành phần đơn giản hay phức tạp, phạm vi tác động rộng hay hẹp, với nhân lực và vật lực nhiều hay ít. Nội dung của nghiên cứu công chúng tuy thuộc vào mục tiêu, điều kiện về nguồn nhân lực và vật lực, thời gian cho phép, nhưng chí ít cũng phải trả lời được những câu hỏi sau: Ai là công chúng mục tiêu và ai là công chúng liên quan của PR? Thứ tự quan trọng và mối liên quan giữa các nhóm người này là như thế nào trong H́nh ảnh hiện tại của họ là như thế nào, liên quan đến mục tiêu PR? H́nh ảnh mà chúng ta mong đợi ở những nhóm người này qua sự tác động của PR là như thế nào?Làm thế nào để đánh giá được kết quả tác động của PR với các nhóm đối tượng này?

Tính chuyên nghiệp và hiệu quả của PR thể hiện trước hết ở phương pháp và kết quả tiến hành nghiên cứu công chúng. Bằng cách phân tích thành phần công chúng và các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng cơ bản, các thành viên trong Ban quản lư dự án SCS Khoa Báo chí đă xác định được rơ ràng nhóm công chúng mục tiêu và các nhóm công chúng liên quan của Giải, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch sát với mục tiêu chung của dự án, khả năng thực hiện của Khoa Báo chí cũng như sự phối hợp của đối tác bên ngoài (Ban Nghiệp vụ, Hội Nhà báo Việt Nam). Với 2 năm đàu tiên mục tiêu chính của Giải là thu hút sự quan tâm, nâng cao vị thế của các nhà báo viết về đề tài trẻ em, xây dựng một mạng lưới các nàh báo viết về đề tài trẻ em, nên đối tượng mục tiêu của Giải khi đó chỉ là các nhà báo chuyên nghiệp và không chuyên. Đến năm 2005, đối tượng mục tiêu đă mở rộng hơn, bao gồm các nhà báo, các nhà truyền thông, các cộng tác viên báo chí và đặc biệt là khuyến khích trẻ em tham gia phát biểu và viết báo. Việc mở rộng phạm vi tác phẩm dự thi là các bài viết của trẻ em có cơ sở từ phân tích hoạt động trẻ em tham gia viết báo tại Câu lạc bộ Phóng viên nhỏ (Đài tiếng nói Việt Nam) và các khóa tập huấn kỹ năng viết báo- kỹ năng truyền thông của nhóm trẻ ṇng cốt tại các trường THCS Trung Nguyên và Liên Châu (Yên Lạc- Vĩnh Phúc). Các nghiên cứu thông qua thông tin phản hồi từ các tác phẩm đăng tải trên trang thông tin điện tử Báo chí với Trẻ em (http://www.cmvn.org) cũng giúp Ban quản lư dự án có những phân tích kỹ càng hơn, nhằm trả lời các câu hỏi quan trọng trong nghiên cứu công chúng, nhằm điều chỉnh kế hoạch và quá tŕnh thực hiện Giái báo chí NB-TEVN từng năm.

2. Lập kế hoạch, chương tŕnh:
Việc xây dựng mục tiêu, xác định đối tượng tác động chính, phương pháp tiến hành, phương tiện cần có cho các hoạt động tiếp cận với công chúng (bên ng̣ai và bên trong) luôn cần đến nhóm kỹ năng lập kế hoạch/ chương tŕnh. Lập kế hoạch không chỉ đơn thuần bao gồm sư phác thảo về những việc cần làm, mà hơn thế, trong quan hệ công chúng, nó phải lư giải được một cách khoa học, trên cơ sở các nghiên cứu đối tượng và phân tích thực trang, những nguyên nhân dẫn đến những quyết định cụ thể/ hoặc duy nhất trong kế hoạch/ chương tŕnh PR. Chẳng hạn: Trên cơ sở phân tích năng lực thực hiện, uy tín, khả năng phối hợp và kinh nghiệm nhiều năm tổ chức giải báo chí ṭan quốc của Ban nghiệp vụ- Hội nhà báo Việt Nam, Ban quản lư dự án đưa ra kế hoạch t́m đối tác đồng tổ chức Giải. Hay như việc mở rộng đối tượng tham gia giải là trẻ em cũng bắt nguồn từ nghiên cứu đối tượng đă nêu trên. Với cơ sở vững chắc là các phân tích đối tượng và sau khi đă thiết kế và thử nghiệm thành công phần mềm chấm điểm tác phẩm và tiếp nhận thông tin phản hồi từ từng tác phẩm đăng tải trên trang thông tin điện tử Báo chí với Trẻ em, Ban quản lư dự án đă xây dựng kế hoạch về sự tham gia dự thi, và đặc biệt, tổ chức Hội đồng chấm giải là trẻ em và tổ chức chấm giải trực tuyến qua trang Báo chí với Trẻ em (http://www.cmvn.org). Kế hoạch được thực hiện thành công. Báo chí và các cơ quan truyền thông đại chúng đưa tin: Lần đầu tiên ở Việt nam và trên thế giới, có một Giải báo chí mà trẻ em được nhận giải cùng với các nhà báo chuyên nghiệp. Và cũng lần đầu tiên có một Giải báo chí chuyên nghiệp được chấm trên mạng. Đó là điểm tạo ra chất lượng mới cho Giải báo chí, thúc đẩy mạnh sự tham gia và giám sát của trẻ em với các hoạt động của báo chí và các phương tiên truyền thông đại chúng.

3. Tổ chức sự kiện:

Để tác động nhanh, mạnh đến công chúng, cần phải có “sự kiện”. Nói cách khác, phải có “chuyện” để thông qua đó, nói cho công chúng hiểu, có ấn tượng tốt và cùng tham gia, ủng hộ. Tổ chức sự kiện chiếm một vi trí quan trọng, bởi lẽ nó quyết định “thông điệp” mà cơ quan/ tổ chức/ doanh nghiệp chuyển đến công chúng là như thế nào. Là một thông báo về mục tiêu, các đối tác, phương thức tiến hành, nguyên tắc hoạt động qua một “Lễ khai trương hoạt động”, hay “Họp báo công bố phát động cuộc thi Giải báo chí NB-TEVN” hàng năm; mời các tác giả đoạt Giải tham dự chương tŕnh Diễn đàn trên Truyền h́nh Việt Nam, Hội thảo đánh giá kết quả hoạt động hàng năm, Gửi thông cáo báo chí nhân sự kiện Chấm giải trên mạng qua địa chỉ http://www.cmvn.org... Các kết quả nghiên cứu công chúng nổi bật, những điểm thú vị trong hoạt động đánh giá, những kế hoạch / chương tŕnh mới, những kết quả bát ngờ... cũng có thể trở thành một sự kiện với những người có kỹ năng làm quan hệ công chúng. Có muôn vàn kiểu tổ chức sự kiện khác nhau, để thông qua đó, người làm truyền thông- quan hệ công chúng t́m cơ hội để tiếp cận công chúng của ḿnh, nhằm tác động đến họ.

Kỹ năng tổ chức sự kiện đ̣i hỏi sự nhạy bén, óc sáng tạo và sự thông hiểu về truyền thông của người làm quan hệ công chúng. Và yêu cầu là không có sự trùng lặp trong các sự kiện được tổ chức. Việc “thêm sự kiện độc đáo”, kiểu như “tổ chức chấm giải trên mạng” có sức tác động mạnh tới công chúng, cả với công chúng nội bộ và công chúng bên ng̣ai. Thêm vào đó, sự phối hợp nhịp nhàng và kịp thời của thông cáo báo chí, các tập tài liệu cho báo chí, tổ chức họp báo rất “chuyên nghiệp” đă góp phần làm tăng giá trị của sự kiện được tổ chức.

4. Truyền thông:

Truyền thông là lĩnh vực được coi là quan trọng nhất, xuyên suốt mọi lĩnh vực khác cuả quan hệ công chúng. Đă nói đến quan hệ công chúng là phải nói đến truyền thông, kỹ năng truyền thông và đặc biệt là kỹ năng quan hệ với giới báo chí- truyền thông. Việc xây dựng các thông điệp cho công chúng, chuyển thông điệp trong các thời điểm khác nhau (đặc biệt trước, trong và sau khi tổ chức hoặc xảy ra sự kiện nào đó) có ư nghĩa quyết định cho hiệu quả của PR.
Các loại h́nh truyền thông- từ truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng đều được sử dụng đúng, phối hợp tốt nhằm hướng tới mục tiêu quan hệ công chúng cho Giải NB-TEVN.
Nhờ làm tốt PR nội bộ, tận dụng thế mạnh mọi thành viên tham gia vào hoạt động dự án đều ít nhiều có kiến thức và kỹ năng truyền thông nên lĩnh vực này là một điểm mạnh. Hoạt động truyền thông của giải chủ yếu thông qua 3 nhóm chủ thể truyền thông là: các nhà báo trong mạng lưới các nhà báo viết về đề tài trẻ em, được thiết lập và duy tŕ quan hệ qua Ban tổ chức các lớp học, các tác giả đă tham gia và đoạt giải những năm trước, nhóm t́nh nguyện viên trang Báo chí với Trẻ em và các tờ báo, tạp chí nội bộ. Nhờ việc xác định và duy tŕ quan hệ tốt với các nhà báo này, có những sự kiện diễn ra rất nhanh, không đủ thời gian để tổ chức họp báo công bố, ví dụ như công bố việc chấm giải qua mạng và truyền thông đẻ thu hút công chúng truy cập vào địa chỉ http://www.cmvn.org để chấm giải, chỉ cần gửi thông cáo báo chí qua thư điện tử và gọi điện thoại thông báo với các thành viên trong mạng lưới, cũng như các t́nh nguyện viên tham gia Báo chí với Trẻ em... là chỉ trong 1 khỏang thời gian ngắn, tin bài về sự kiện đó đă đồng loạt xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, với thông điệp mong đợi của người làm quan hệ công chúng. Một số nhà báo trong mạng lưới trên, tiêu biểu là Nhà báo Nguyễn Thị Thúy (Phó pḥng văn xă- Thông tân xă Việt Nam), nhà báo Lê Ḥang Hiệp (Báo Thiếu niên tiền phong) không những trực tiếp viết tin bài về Giải báo chí, mà đồng thời c̣n vận động, phối hợp đưa tin trên các tờ báo và các kênh truyền thông đại chúng khác. Thông qua các trang báo điện tử, đặc biệt là qua trang Báo chí với Trẻ em, qua bản tin của Thông tấn xă Việt Nam và tờ nhật báo tiếng Anh Vietnam News, thông tin về Giải báo chí đă được truyền thông rộng răi đến nhiều nước trên thế giới, tạo ra tầm “quốc tế ” của sự kiện này.

5. Nghiên cứu đánh giá

Không chỉ tổ chức tốt lĩnh vực nghiên cứu nghiên cứu công chúng ban đầu, nghiên cứu đánh giá trong Ban tổ chức cuộc thi, trong Hội đồng chấm chung khảo được thực hiện một cách nghiêm túc. Các thông tin phản hồi từ Ban tổ chức, Hội đồng giám khảo người lớn và trẻ em, các tác giả đoạt giải, các cơ quan báo chí – truyền thông, các t́nh nguyện viên. Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động tư vấn chiến lược và tư vấn tổ chức. Với thông tin phản hồi của Hồi đồng giám khảo trẻ em, kế hoạch tập huấn cho nhóm phóng viên nhỏ tham gia Hội đồng chấm giải được điều chỉnh: đối tượng đa dạng hơn, nội dung sát với yêu cầu thực tế chấm giải Báo chí hơn, tăng thêm phần thực hành chấm giải trong các khóa tập huấn... Lịch tŕnh hoạt động và sự phối hợp giữa 2 Hội đồng giám khảo, 2 đợt chấm sơ khảo và chung khảo cũng được điều chỉnh nhằm đảm bảo tiến độ đồng thời đảm bảo yêu cầu về quy tŕnh chấm giải.
Những kết quả đánh giá này đồng thời c̣n là cơ sở cho việc điều chỉnh kế hoạch của dự án, xây dựng kế hoạch mới cho các giai đoạn tiếp theo.

6. Tư vấn

Nhờ tổ chức tốt các hoạt động nghiên cứu, dù Ban quản lư dự án chỉ có 3 người (1 Chủ nhiệm dự án và 2 điều phối viên), các hoạt động tư vấn, bao gồm cả tư quản lư và tư vấn cho những người tham gia vào Giải được thực hiện. Các quyết định trong việc điều hành, quản lư dự án nói chung và trong việc điều hành hoạt động của Giải nói riêng đều có sự tham gia tư vấn của 2 điều phối viên, trên cơ sở tập hợp thông tin phản hồi, cũng như ư tưởng đề xuất của các thành viên tham gia hoạt động của dự án trong và ngoài Khoa Báo chí, các chuyên gia truyền thông về đề tài trẻ em.

Trên cơ sở nắm vững mục tiêu, nguyên tắc tổ chức Giải, các thành viên Ban tổ chức đă làm tốt công tác tư vấn cho các đối tượng có khả năng hoặc mong muốn gửi tác phẩm dự thi, các cơ quan báo chí khắp nơi trên cả nước cùng tham gia đưa các tác phẩm được đánh giá là có chất lượng nhất.

Thay lời kết

TNV Thùy Trang (Báo ảnh 24), Đặng Quốc Nam (Báo mạng 24), Phương Diệp (Báo in 23) nói: “Khi tham gia Câu lạc bộ PR, đồng thời tham gia vào hoạt động của dự án SCS,chúng em mới thấy khâm phục cách làm PR của Khoa Báo chí. Có “event” như Hội thảo đánh giá hoạt động dự án cho 50-60 người, sử dụng pḥng máy chiếu, với những đoạn phim giới thiệu và có khách mời cả bên trong lẫn bên ngoài, mà với 2 triệu đồng và 2 ngày chuẩn bị mà event đó vẫn rất thành công. Sau event “2 triệu, 2 ngày” đó, chỉ trong ṿng nửa ngày, đă thấy báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đăng tin”. Giải báo chí NB-TEVN được tổ chức thành công trong nhiều năm liên tục đă khẳng định kỹ năng làm quan hệ công chúng của Khoa báo chí- Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung và Ban quản lư dự án nói riêng. Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân chính của những thành công trên là :

Một là, Biết tận dụng những cơ hội : sự ủng hộ, khuyến khích của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, sự ủng hộ của các cơ quan, tổ chức và ṭan xă hội trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và vị thế xă hội của Nhà báo viết về đề tài trẻ em; Các mối quan hệ bên trong và bên ngoài Học viện đều được “tận dụng”, nhằm hướng tới những hoạt động nhằm thỏa măn những lợi ích chung. Trong Lễ trao Giải năm 2005 vừa qua, sự có mặt đồng thời của Đại diện Ban giám đốc Học viện- GS,TS Dương Xuân Ngọc, Giám đốc quốc gia SCS tại Việt Nam- Ông Michael Ekstrom và Ông Nguyễn Thiện Trướng- Phó chủ nhiệm Ủy ban dân số- gia đ́nh và Trẻ em nước ta và rất nhiều các nhà báo thuộc các cơ quan báo chí trong cả nước...là một bằng chứng sinh động cho sự thành công của những người làm quan hệ công chúng cho Giải báo chí này.

Hai là, Biêt cách đối mặt với thách thức : bao gồm cả những rào cản về vật chất và ư thức như: khó khăn về tài chính, phương tiện làm việc, mặc cảm tự ty của những người tham gia dự án; sự tồn tại của những quan điểm sai lầm trong xă hội: coi nhẹ báo chí và nhà báo viết về đề tài trẻ em, chưa có nhận thức đúng về cách viết báo tiếp cận quyền trẻ em... Những khó khăn, rào cản đó đều có thể giải quyết nếu những người tham gia hiểu rơ ư nghĩa của Giải. Trên cơ sở thấu hiểu ư nghĩa xă hội của giải, các t́nh nguyện viên, các thành viên Ban tổ chức, Hội đồng chấm giải đều tham gia với tinh thần “t́nh nguyện”, “v́ lợi ích tốt nhất của trẻ em Việt Nam”.

Ba là, Biết khai khai thác những điểm mạnh. Những điểm mạnh đó ít nhất là: Khoa Báo chí là cơ sở đào tạo có uy tín trong cả nước, cán bộ tham gia dự án có kiến thức về truyền thông về quan hệ công chúng, sự tham gia của đội ngũ sinh viên t́nh nguyện đă được tập huấn nghiệp vụ báo chí viết về đề tài trẻ em, lại nhiệt t́nh trong các hoạt động của Giải ). Có uy tín về nghiệp vụ báo chí, có những mối quan hệ vững chắc với Hội Nhà báo Việt Nam, có sự ủng hộ của Ủy ban dân số- gia đ́nh và Trẻ em, sự ủng hộ của Ban giám đốc Học viện, Ban chủ nhiệm Khoa Báo chí, các pḥng ban trong Học viên, đặc biệt là Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền... là những thế mạnh đă được Khoa Báo chí phân tích và sử dụng đem lại hiệu quả hoạt động của Giải báo chí này.

Bốn là, Có phương pháp khắc phục những điểm c̣n yếu kém (chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm quản lư c̣n ít)...
Khi bắt đầu tham gia dự án, tất cả các thành viên trong Ban quản lư c̣n rất bỡ ngỡ. Với tinh thần “cán bộ khoa tham gia để tận dụng cơ hội học hỏi kinh nghiệm, nâng cao tŕnh độ chuyên môn và tŕnh độ quản lư, đồng thời tạo cho sinh viên những cơ hội được tập huấn và thực hành nghiệp vụ báo chí ”, các thành viên trong Ban quản lư, cũng như các cán bộ, sinh viên tham gia dự án đă tích cực gặp gỡ các chuyên gia, học hỏi kinh nghiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Bắt đầu các hoạt động tổ chức Giải báo chí từ lĩnh vực “Báo chí với Trẻ em” là một lựa chọn phù hợp cho việc rèn luyện nhằm nâng cao cả về chuyên môn nghiệp vụ với đội ngũ sinh viên báo chí tham gia vào dự án, và cả lĩnh vực quản lư dự án truyền thông của cán bộ- giảng viên Khoa báo chí nữa.

Thiết nghĩ, đó cũng là những bài học thực tế có thể chia sẻ về việc phát triển các kỹ năng quan hệ công chúng với những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

Thạc sỹ Đỗ Thu Hằng- Giảng viên Khoa Báo chí Học viện Báo chí và Tuyên truyền. (Bài đăng trên tạp chí Lư luận chính trị và truyền thông số tháng 11/2006

Ư kiến phản hồi
Tên người gửi:
Email:
Địa chỉ:
Nội dung  :
Mă bảo vệ : Verify Code
 


Các tin khác
•  Một giải thưởng nhiều ư nghĩa (06/01/2009)
•  Ngô Thị Liên: Lớn lên cùng "Phóng Viên Nhỏ" (23/12/2008)
•  Giản dị và ấm cúng (22/12/2008)
•  Danh sách các tác giả, tác phẩm đoạt giải 2006-2007 (01/12/2008)
•  Thế nào là một tác phẩm báo chí hay về đề tài trẻ em? (07/12/2007)
•  Thể lệ cuộc thi : “Nhà báo với trẻ em Việt Nam 2006-2007” (16/05/2007)
•  "Baby in the box" - Nhịp cầu nối những bờ vui? (14/01/2007)
•  Tôn trọng và khuyến khích trẻ em tham gia viết báo (07/11/2006)
•  “Gặp lại tuổi thơ ḿnh qua những nhân vật trẻ em" (29/06/2006)
•  Một vài ư kiến trong Lễ trao giải "Nhà báo với trẻ em Việt Nam" (27/06/2006)
Trao giải NB-TEVN 2005

    27 nhà báo làm việc và cộng tác viên các cơ quan báo chí nước ta đă đoạt giải cuộc thi Nhà báo với Trẻ em Việt Nam 2005 theo công bố của Trưởng ban tổ chức Giải Lê Quốc Trung tại Quyết định số 51/ HNBVN. Có 3 giải nhất, 2 giải nh́, 3 giải 3 và 19 giải khuyến khích với tổng trị giá giải thưởng là 44 triệu đồng cho giải thưởng này. Lễ trao giải tổ chức ngày 24/6/2006
Thông cáo báo chí:Liên hoan phim hoạt h́nh các Câu lạc bộ Phóng viên nhỏ Hà Nội – Vĩnh Phúc – Hưng Yên
TP1.4. Hồi âm loạt bài: “Cần làm rơ nguyên nhân cái chết của hai trẻ em ở Hà Giang”
TP1.3. Bài 3: Những t́nh tiết đầy mâu thuẫn
TP1.2. Bài 2: Giọt nước mắt của hai người mẹ trẻ
TP1. Cần làm rơ cái chết của hai trẻ em ở Hà Giang:Bài 1: Lá đơn của hai người cha mù chữ
TP2. Khi gia đ́nh là nỗi sợ
TP3. Hành tŕnh A, B, C…
TP4. Lao động trẻ em ở vùng mỏ quặng sắt
TP5. Cho trái tim em được hồi sinh
TP6. “Năn tui mí” - hủ tục không thể để tồn tại
Lênh đênh con chữ
TP8. Cân bằng âm dương trong lĩnh vực giáo dục
TP9. Hot teacher của chúng ḿnh
TP10. Mẹ & con cùng chơi
TP11. Băng cướp là bạn tôi