Tổng biên tập
PGS TS NGUYỄN VĂN DỮNG
 
Tổng thư kư toà soạn
1. TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
2. TS NGUYỄN NGỌC OANH
 
Với sự tham gia của
Nhóm t́nh nguyện viên là giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Báo in, Phát thanh, Truyền h́nh, Báo mạng điện tử, thông tin đối ngoại - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
 
Mọi thông tin, ư kiến và bài viết xin gửi về
Website Báo chí với Trẻ em.
Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. 36 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Vietnam
E-mail: foj_ajc@yahoo.com




Trang nhất > Giải báo chí NB-TEVN > Tác phẩm dự thi 2006-2007
TP8. Cân bằng âm dương trong lĩnh vực giáo dục
Cập nhật 7/21/2008 11:04:49 PM
 
Gửi cho bạn bè
In trang này
In bài này
Ư kiến của bạn
Chưa bao giờ sự nghiệp giáo dục (GD) được dư luận quan tâm và phản ánh như hiện nay. Bệnh thành tích ảo, bệnh gian dối trong thi cử, rồi nạn bằng giả, nạn dạy thêm, học thêm tràn lan… là những bệnh biểu hiện không thể không giải quyết tận gốc rễ, càng sớm càng tốt.

        Rất tiếc, ít nhất đến thời điểm này, chưa một giải pháp tổng thể nào được đưa ra, ngoại trừ phong trào “Nói không với tiêu cực trong thi cử, nói không với bệnh thành tích…” mà đích thân Bộ trưởng phát động, như một đợt sóng trào, dâng lên thật mạnh mẽ xong khi rút đi chỉ kéo theo lớp rêu bùn trên bề mặt. Phần c̣n lại, gốc rễ và nguyên nhân th́ chưa giải quyết được và không thể giải quyết hời hợt một sớm một chiều chỉ bằng phong trào rầm rộ.
    Bởi lẽ đó, cho phép tôi với tư cách là một công dân, một trong các chuyên viên tổng hợp Văn pḥng Bộ GD (từ năm 1984) và hiện là một trong những người khởi xướng, phối hợp với một số Vụ của Bộ dàn dựng rất công phu một chương tŕnh nhằm hỗ trợ việc “cân bằng Âm – Dương trong lĩnh vực GD” được bày tỏ một trong các giải pháp nhằm tạo dựng một nền GD nhân bản, có tính kế thừa sâu sắc, có tính quy luật khách quan đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và những ai quan tâm đến sự hưng thịnh của GD cùng bàn, t́m hiểu nguyên nhân để sớm đưa ra giải pháp kỹ thuật cụ thể có tính khả thi cho GD nước nhà.
Nguyên nhân 1: Giáo dục thịnh Âm kéo dài – trẻ thiếu vận động và chậm phát triển.
     Trong trí tuệ siêu phàm của cổ nhân và quan niệm thâm thúy của phương Đông về thuyết Nhân – Quả và thuyết Âm – Dương ngũ hành lưu truyền trong nhân dân từ đời này qua đời khác đều khẳng định rằng: Dương là cơ bản của sự sống, Âm là cơ sở của sự chết, Khí là Dương, Huyết là Âm, thịt vốn là do Huyết sinh ra, người béo bởi Âm tăng mà sống yểu và chỉ khi Âm – Dương giao hoà thần khí mới hưng, thân lực mới mạnh, con người phát triển hài hoà và bền vững, sự nghiệp thêm bền bỉ, trường tồn… Vậy mà, đến nay nền GD Việt Nam dường như dựa vào “thịnh Âm” mà tồn tại và phát triển… Hậu quả nhỡn tiền là do guồng máy GD vận hành theo kiểu coi trọng việc học một cách ngẫu hứng nên không coi trọng việc chơi (thịnh Dương) của trẻ mặc dù trong nguyên lư GD có nêu: “học đi đôi với hành”. GD toàn diện phải bao hàm GD trí lực (là việc học)  và GD thể chất (là việc chơi)… Nói như vậy, xong từ Bộ đến các cơ sở, các trường th́ việc tổ chức sân chơi, bài tập cho học sinh, nhất là học sinh cấp I chưa được coi trọng, chưa được đầu tư, và do đó trong một trường GD thịnh Âm, trẻ không đủ cơ sở và điều kiện để phát triển toàn diện, pḥng tránh tật bệnh (như xơ hoá cơ delta, bệnh trầm cảm, bệnh tiểu đường, bệnh béo ph́ và đần độn…). Đây chính là bệnh thành tích ảo có tính lan truyền như một dịch bệnh thực sự, làm mất khả năng tự hành động của trẻ, nhiều năng lực sinh học tiềm ẩn bị thui chột.
     Để khắc phục, ngành GD nói riêng và toàn xă hội nói chung nên thay đổi nhận thức và chính sách đầu tư cho GD, nghĩa là ngoài kinh phí xây cất trường cơ sở, lo việc học hành th́ phải dành kinh phí tổ chức sân chơi, bài tập cho học sinh từ các nguồn: Nhà nước cấp, phụ huynh đóng góp và các nhà tài trợ.
    Một điều thuận lợi là tháng 6/2004, Bộ GD để nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về đồ chơi đa năng cho GD tiểu học (mă số B 20001 – 49 – 26), vấn đề c̣n lại là Bộ chỉ đạo cho các Sở, các trường tiếp cận ư tưởng này, bắt đầu từ cấp I rồi lên cấp III và lan truyền ra toàn xă hội. Đó là ư tưởng tổ chức các “sân chơi mở cộng đồng” ở nơi mà học sinh và người dân đang sống, học tập và lao động.
Nguyên nhân 2: Hệ thống GD bị chia tách, khó cho chỉ đạo và phân luồng khi học sinh bước vào GD nghề nghiệp và lao động xă hội.
    Sự tách ra, nhập vào của các doanh nghiệp, bộ, ngành…., nếu đúng đắn sẽ tạo ra sức mạnh to lớn cho các đơn vị và xă hội, xong nếu không đúng sẽ trở thành vấn nạn cho sự nghiệp, kéo theo sự phá sản, đổ vỡ đáng tiếc. Trong phạm trù này, việc tách dạy nghề sang một Bộ khác (Bộ Lao động Thương binh và Xă hội thay v́ phải củng cố lại tổ chức cho GD dạy nghề) để trở thành một trong những nguyên nhân làm khó cho sự điều hành của Chính phủ, gây lúng túng trong sự chỉ đạo trực tiếp và điều hành của Bộ GD, gây sự chênh vênh, lo lắng cho người dân mỗi kỳ thi cử tới…
    Để khắc phục, để đến lúc xin được Chính phủ, Quốc hội và các Bộ ngành liên quan h•y tính đến nước cờ “trả lại tên cho em” để Dạy nghề trở thành một bộ phận không thể tách rời của GD nghề nghiệp của Bộ GD. Khi chưa giải quyết được vấn đề này, không thể nói để “cởi trói” cho GD, càng chưa thể giải quyết tận gốc các bất cập hiện nay cho học nghề, việc làm, thất nghiệp, tệ nạn xă hội và đời sống của người lao động.
Nguyên nhân 3:  Hệ thống GD thêm bớt làm khó cho tổ chức thực hiện và chỉ đạo mất tính thống nhất, liên thông của cả hệ thống GD.
   Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, GD Việt Nam để có những thay đổi, thử nghiệm tạo ra nhiều luồng vị trí của A B C trong bảng chữ cái để thay cách dạy và học, rồi đến việc thay sách theo kiểu “ cuốn chiếu” và quy tŕnh từ thiết kế, duyệt mẫu đến chế tạo và cung cấp các đồ dùng dạy học cho kịp tiến độ… Đây là vấn đề c̣n nhiều bất cập và chưa có sự thống nhất đồng bộ.
   Gần đây, chiến dịch phân ban thử nghiệm đến đại trà đă bộc lộ một số hạn chế. Khi phân ban quá sớm (từ lớp 10, ở độ tuổi vị thành niên) trẻ chưa đủ “chín” để định đoạt số phận chỉ qua một cuộc chọn nguyện vọng theo phân ban một cách mơ hồ. Đây là sức ép quá lớn với trẻ vị thành niên và gia đ́nh. Trong khi những tưởng sẽ phục vụ tốt sự lựa chọn vào đại học (và chỉ vào đại học mà thôi) xong thực tế đă gây rối loạn cho cả hệ thống GD. Công tác chỉ đạo từ Bộ đến Sở, từ Pḥng đến các trường c̣n gặp nhiều lúng túng và lớn hơn nữa là trong hàng chục triệu lo toan của học sinh và các bậc phụ huynh.
Cụ thể là:
a. Trong GD phổ thông:
Từ lớp 1 đến lớp 5 gọi là trường Tiểu học và trường cấp I.
Từ lớp 6 đến lớp 9 gọi là trường THCS, trường PTCS, trường PTTH CS và trường cấp II.
Từ lớp 10 đến lớp 12 gọi là trường THPT, trường PTTH và trường cấp III.
    Làm thế nào để đưa vào mạng và ứng dụng tin học quản lư QD và trên hết cho sự thống nhất để dân biết, dân hiểu, dân bàn, dân làm, dân làm chủ, học sinh cũng biết để thực hiện.
b. Trong GD nghề nghiệp cũng vậy, không có tên dạy nghề; trường trung cấp hay trung học cũng phải làm rơ, không thể để t́nh trạng “2 trong 1” như hiện nay.
    Vấn đề bản chất của GD phổ thông (từ lớp1 đến lớp 12) phải được sự thống nhất trên b́nh diện quốc gia về nội dung chương tŕnh, phương pháp giảng dạy và điều kiện đảm bảo khác. Đó là vốn kiến thức cơ bản nhất, phổ thông nhất mà 100% học sinh cấp II, cấp III được học trong trường. Có như vậy, khi học hết lớp 9 và lớp 12, học sinh cùng một lúc tuỳ điều kiện về học lực, kinh tế và sở thích lựa chọn hướng đi cho cuộc đời. Đó là 4 hướng đi sau.
1. Bao nhiêu % ra đi làm ngay?
2. Bao nhiêu % vào trường dạy nghề? (Khoảng 30 – 40 %)
3. Bao nhiêu % vào học trường trung cấp? (Khoảng 15 – 20 %)
4. C̣n lại bao nhiêu % nộp đơn thi vào đại học? (Khoảng 25 – 35%)
    Sự lựa chọn này diễn ra cùng một thời điểm cho mọi học sinh, như vậy sẽ tạo sự công bằng, tiết kiệm tiềm lực kinh tế cho đất nước, sức lực cho toàn dân. Và như vậy, luồng thi vào đại học là con số thực (và chỉ chọn hai trường là đủ). Hệ thống truyền thông phải hướng học sinh và gia đ́nh vào 4 sự lựa chọn trên. Được như vậy, sự phân công xă hội dựa vào năng lực là công bằng, đúng thực chất và có hiệu quả kinh tế.
    Khi đă có sự phân luồng rơ ràng, cùng một thời điểm th́ vấn đề chọn lựa sẽ  không nặng nề như hiện nay, đặc biệt là áp lực vào mỗi cuối năm học.
Sơ đồ này nếu được triển khai, xin được phổ biến rộng răi đến từng trường học để gia đ́nh và nhà trường thực hiện sớm, giúp học sinh chủ động định hướng vào đời cho ḿnh dựa vào năng lực học tập, điều kiện và nguyện vọng. Các trường dạy nghề, trung cấp, đại học cùng quảng bá sản phẩm đào tạo thu hút học sinh và cùng làm trong một thời điểm, không làm theo kiểu “Lọt sàng rồi mới xuống nia” như hiện nay. Cho dù phải chi phí không dưới vài trăm tỷ đồng cho sự điều chỉnh này, xong sẽ tiết kiệm hàng ngh́n tỷ đồng trong những năm tiếp theo và trên hết đem lại ổn định bền vững cho toàn bộ hệ thống, làm lành mạnh hoá các quan hệ xă hội và loại trừ tiêu cực, nâng cao thực sự nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
    Từ sơ đồ phân luồng GD nêu trên, tổ chức bộ máy quản lư chuyên môn từ cấp Bộ đến cấp cơ sở cũng phải điều chỉnh cho phù hợp, mạnh dạn xoá bỏ các từ hoa mỹ, không phản ánh thực chất của GD.
    Cụ thể là ở cơ quan Bộ sẽ có các Vụ chuyên môn: Vụ GD Mầm non, Vụ GD cấp 1.
    Vụ GD cấp 2, Vụ GD cấp 3, Vụ Dạy nghề, Vụ Trung cấp, Vụ Đại học và sau Đại học, ở các sở GD cấp tỉnh, thành phố sẽ có các pḥng tương ứng, các pḥng GD cấp quận, huyện sẽ có các tổ tương ứng ( tổ GD mầm non, tổ GD phổ thông, tổ GD nghề nghiệp). Ngay cả Viện Chiến lược và Chương tŕnh GD cũng phải trở về tên thật của ḿnh là Viện Khoa học GD với các pḥng ban chức năng tương đương các Vụ chuyên môn của Bộ… Có như vậy mới tham mưu cho Bộ trong việc tiếp nhận và xử lư các thông tin mới liên quan tới GD.
   Nếu tổng thể trên được xem xét và triển khai trong thời gian tới th́ tên gọi các trường sẽ gồm 2 phần riêng biệt: phần cứng là thống nhất thể hiện cấp học và phần mềm là tên riêng của từng trường. Cụ thể là:
1. GD mầm non: Ví dụ trường Mầm non Hoa Sen, trường mầm non tư thục Hoa Hồng.
2. GD phổ thông: Ví dụ trường cấp I Trần Phú, trường cấp II Tây Sơn, trường cấp III Minh Khai.
3. GD nghề nghiệp: Ví dụ trường dạy nghề Cơ khí 1, trường Trung cấp Y, trường Đại học Y. (không có loại trường cao đẳng, trường trung học trong hệ thống này).
Như vậy chỉ có hai loại h́nh trường là trường Công lập và trường Tư thục (không có loại h́nh Bán công) dựa trên cơ sở đầu tư xây dựng và quản lư trường.
Nguyên nhân 4: Nhiều học sinh mất gốc từ lớp 1, cấp I vẫn phải lên lớp cao hơn, không học được ắt phải bỏ học và chọn con đường dối gian trong thi cử.
    Thực ra, hiểu một cách nôm na, thi cử chỉ là cách đánh giá tŕnh độ học vấn của học sinh sau một chương tŕnh học tập, qua đó, các học sinh quá yếu cho lưu ban và chỉ để học sinh học lực đủ học lên các lớp cao hơn. Như vậy, nếu trẻ học  tốt lớp 1 sẽ dễ dàng lên lớp 2, trẻ học tốt cấp 2 th́ sẽ đỗ lên cấp 3….đừng đẩy trẻ vào thế khó xử, xă hội và gia đ́nh nên có cái nh́n vị tha hơn để xem đó là việc đương nhiên như người xưa có câu: “Bàn tay c̣n có ngón dài ngón ngắn”.
     Như vậy, để khắc phục nguyên nhân “mất gốc” trên và trả lời câu hỏi: chống gian rối trong thi cử phải bắt đầu từ đâu? Xin trả lời: từ lớp 1, từ cấp I, và bằng phương pháp loại trừ ngẫu nhiên, dựa vào khả năng, học lực cụ thể của từng trẻ. Không phải cứ học là 100% lên lớp, 98% khá giỏi, cứ học là thi đại học mà phải “phân luồng” cùng lúc cho cả 4 hướng cho học sinh bởi tốt nghiệp PTTH có trẻ phải làm ngay, có trẻ thi vào học trường nghề, hoặc trung cấp, số c̣n lại mới chọn thi đại học.
Được như vậy sẽ tạo sự ổn định của cả hệ thống giáo dục, gia đ́nh và học sinh không bị phân tâm, lo lắng trước mỗi kỳ thi, giảm chi phí to lớn cho gia đ́nh và xă hội. Sự ổn định này c̣n giúp “hậu cần” của GD phát triển bền vững và dần thoát ra khỏi t́nh trạng cập rập, nhiều sai sót, mất cơ bản như hiện nay.
     Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, bằng thần lực và linh cảm mạnh mẽ rút ra từ cuộc sống đương đại, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, dự báo cho bước đi của GD Việt Nam trong vài năm tới, cho phép tôi mạnh dạn bày tỏ mong Thủ tướng và Bộ trưởng cùng dư luận xă hội xem xét, chắc chắn sẽ giúp ít nhiều cho sự phát triển bền vững của sự nghiệp GD – sự nghiệp liên quan tới từng người dân, có tính kế thừa, cả hiện tại và tương lai.
     Không sợ tốn kém, chỉ lo không làm và càng lo hơn khi ai cũng biết mà không ai làm cả và lúc đó người dân không biết dựa vào ai. Với thiện tâm, thiện chí, muốn góp một cố gắng nhỏ vào sự thăng hoa của GD nước nhà để chuẩn bị một bước thật cơ bản và thiết thực nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển dân trí và hội nhập Quốc tế.
                                                                   
                                                      

Ks.Hà Trọng Dũng Tạp chí Hướng nghiệp và Ḥa nhập

Ư kiến phản hồi
Tên người gửi:
Email:
Địa chỉ:
Nội dung  :
Mă bảo vệ : Verify Code
 


Các tin khác
•  TP1.4. Hồi âm loạt bài: “Cần làm rơ nguyên nhân cái chết của hai trẻ em ở Hà Giang” (25/07/2008)
•  TP1.3. Bài 3: Những t́nh tiết đầy mâu thuẫn (25/07/2008)
•  TP1.2. Bài 2: Giọt nước mắt của hai người mẹ trẻ (25/07/2008)
•  TP1. Cần làm rơ cái chết của hai trẻ em ở Hà Giang:Bài 1: Lá đơn của hai người cha mù chữ (25/07/2008)
•  TP2. Khi gia đ́nh là nỗi sợ (25/07/2008)
•  TP3. Hành tŕnh A, B, C… (25/07/2008)
•  TP4. Lao động trẻ em ở vùng mỏ quặng sắt (25/07/2008)
•  Lênh đênh con chữ (22/07/2008)
•  TP9. Hot teacher của chúng ḿnh (21/07/2008)
•  TP10. Mẹ & con cùng chơi (15/07/2008)
TP5. Cho trái tim em được hồi sinh
TP6. “Năn tui mí” - hủ tục không thể để tồn tại
TP11. Băng cướp là bạn tôi
TP12. Bao giờ em được đến trường?
TP13. Kiếm tiền nuôi mẹ
TP14. Những mầm xanh trên đỉnh Lả Nh́ Thàng
TP15. Những thiên thần bị vứt bỏ
TP16.1. Bẫy t́nh tuổi teen (Vị thành niên bị ép nếm "trái cấm")
TP16.2. Bài 2: Cơn ác mộng của cậu học sinh lớp 10
TP16.3. Bài 3: Bi kịch của một nữ sinh
TP16.4. Thoát khỏi ám ảnh và kết thúc có hậu
TP16.5. Làm ǵ để tránh bẫy t́nh tuổi teen
TP 17.Tổ ấm Mai Sơn
TP18.3. Những đứa trẻ khi không c̣n “lá chắn”…
TP 18.2.Những cảnh đời khác nhau…