Tổng biên tập
PGS TS NGUYỄN VĂN DỮNG
 
Tổng thư kư toà soạn
1. TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
2. TS NGUYỄN NGỌC OANH
 
Với sự tham gia của
Nhóm t́nh nguyện viên là giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Báo in, Phát thanh, Truyền h́nh, Báo mạng điện tử, thông tin đối ngoại - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
 
Mọi thông tin, ư kiến và bài viết xin gửi về
Website Báo chí với Trẻ em.
Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. 36 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Vietnam
E-mail: foj_ajc@yahoo.com




Trang nhất > Giải báo chí NB-TEVN > Tác phẩm dự thi 2006-2007
TP7. Ghi chép:
Lênh đênh con chữ
Cập nhật 7/22/2008 8:55:08 PM
 
Gửi cho bạn bè
In trang này
In bài này
Ư kiến của bạn
Ông tha mà bà chẳng tha/ Làm cho con cái lũ hai ba tháng mười”, anh Phạm Minh, Bí thư Đảng uỷ xă Hải Thọ (Hải Thọ) lẩm nhẩm đọc câu tục ngữ truyền đời của cư dân vùng lũ rồi tặc lưỡi: “Nhưng năm nay th́ ngay cả ông cũng chẳng tha. Chưa đến 23/10 mà đă có đến 5 cái lũ, lũ này chưa ra lũ khác đă vào. Khổ. Dân t́nh ai cũng khổ. Nhưng khổ nhất là các em học sinh, lũ nhiều con chữ cũng lênh đênh như con nước”. Báo cáo nhanh của UBND huyện Hải Lăng cho thấy, tính sơ bộ đă có 7 pḥng học ở xă Hải Thiện bị tốc mái do lốc xoáy, 264 pḥng học khác bị ngập nước, 55 bộ bàn ghế và hơn 800 đầu sách bị hư hỏng, trên 18.000 học sinh phải nghỉ học dài ngày… “Dài bao nhiêu?” - Tôi hỏi. Anh Vơ Văn Hoa, Phó trưởng pḥng GD - ĐT Huyện Hải Lăng trả lời dứt khoát: “Gần 3 tuần nay rồi. Nghỉ, rồi lại học, lại nghỉ… Cứ mưa lũ dai dẳng kiểu này th́ học sinh c̣n phải nghỉ dài dài. Đợt lũ trước nước vừa rút, các trường vừa triển khai cho học sinh học trở lại th́ lũ lại vào, gần một nửa số học sinh Tiểu học, THCS vùng trũng lại phải nghỉ. Thế đấy. May mà ngành giáo dục huyện có sự chuẩn bị trước, nếu không th́… ”

Giáo dục cũng phải biết sống chung với lũ
Chẳng biết cái “bản quyền” sống chung với lũ của cư dân đồng bằng Nam Bộ đă bị người dân vùng trũng Hải Lăng “đánh cắp ” từ lúc nào nhưng những năm gần đây, mỗi mùa mưa băo đến, người dân Hải Lăng lại rục rịch chuẩn bị để sống chung với lũ… Trong tâm trí hơn 13.000 hộ dân thuộc 17 xă vùng trũng (chiếm hơn 70% dân số huyện), câu chuyện chống nhà, bắt heo, chuyển lúa gạo lên cao, nhà nào có con học cấp II, III ở huyện th́ lo gói ghém quần áo, sách vở, ḿ tôm cho con cái “di cư” lên vùng cao trọ học… là câu chuyện thường ngày mỗi khi mùa mưa băo đến. Anh Vơ Văn Hoa khẳng định, với diễn biến phức tạp của thời tiết như hiện nay, ngành giáo dục cũng phải biết sống chung với lũ th́ mới có thể đảm bảo những chỉ tiêu đề ra được. Xác định như thế nên ngay từ đầu mùa mưa lũ, Pḥng GD- ĐT huyện đă chủ động thành lập một Ban chỉ đạo pḥng chống mưa lũ của ngành giáo dục. Mỗi cán bộ nằm trong Ban chỉ đạo được phân công phụ trách một địa bàn nhất định, bám sát địa bàn đó để chỉ đạo công tác chống lũ và kịp thời xử lư mọi t́nh huống khi mưa lũ ập đến bất ngờ. Tại các trường học, Ban Giám hiệu nhà trường cũng thành lập các đội xung kích gồm các giáo viên nam trẻ, khoẻ để sẵn sàng chống lũ. Mỗi khi có mưa lũ xảy ra, các đội xung kích sẽ nhanh chóng chuyển các trang thiết bị, máy móc, đồ dùng dạy học của nhà trường và sắp xếp lại bàn ghế để hạn chế găy, hỏng khi lũ tràn vào. Sau khi lũ rút, đội xung kích sẽ kịp thời sửa lại chỗ hư hỏng, huy động học sinh làm vệ sinh khu vực trường học, ổn định trường lớp, đảm bảo công tác dạy và học trong thời gian sớm nhất, không để lăng phí thời gian dù chỉ một ngày. Đối với những sự cố hư hỏng nặng như lốc xoáy ở trường THCS Hải Thiện, đội xung kích nhà trường phải kịp thời báo cáo lên Ban chỉ đạo pḥng chống mưa lũ của Pḥng GD- ĐT huyện để kiến nghị lên cấp trên có biện pháp khắc phục.
 
Chúng tôi về trưởng THCS Hải Thiện. Trong gió rét căm căm, những bóng người nhỏ bé vẫn nhấp nhô trên mái nhà để sửa lại những pḥng học bị hư hỏng v́ lốc  xoáy. Ở bên kia, trong những pḥng học chật chội và ẩm ướt, những học sinh vùng lũ đang hớn hở trở lại trường sau những ngày dài thấp thỏm chờ đợi. Anh Vơ Văn Hoa cho biết, Pḥng GD - ĐT huyện cũng như Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo khẩn trương sửa chữa lại những pḥng học bị hư hỏng để có chố cho các em học tập trong thời gian sớm nhất. Trước hết trường tổ chức cho các em học tạm ở các pḥng chức năng. Đồng thời pḥng cũng chỉ đạo giáo viên các trường vùng ngập lũ sắp xếp thời gian để dạy bù cho các em vào ngày nghỉ cuối tuần để kịp chương tŕnh. “Không để lăng phí thời gian dù chỉ một ngày”. Tôi cứ nhớ măi câu nói đó của anh Hoa như một phương châm làm việc của những người làm công tác giáo dục ở vùng trũng Hải Lăng. Mới hay, bay giờ, ngay cả việc dạy và học cũng phải biết cách sống chung với lũ.
 
Buổi chiều nơi bến đ̣ “dă chiến” là đầu mối giao thông giữa vùng cao huyện Hải Lăng với các thông vùng Càng, chúng tôi bắt gặp 2 chị em Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Tha (Càng Dây Da, xă Hải Thọ, hiện là học sinh lớp 8, trường THCS Hải Thọ) lúi húi chống ghe ngót 2 cây số giữa mênh mông nước bạc để đến trường. Hỏi ra mới biết, ở giữa vùng Càng lẻ loi như ốc đảo kia, mỗi mùa mưa lũ về lại ngập lênh láng suốt 3, 4 tháng trời. Vậy mà ngày ngày, 2 chị em Thu, Tha vẫn chống tre đi học, mặc mưa to gió lớn, mặc sông nước mênh mông. Mùa này trời tối sớm, nhiều hôm 2 chị em chống ghe về đến nhà th́ trời đă tối đen như mực, ti vi đă phát chương tŕnh thời sự buổi tối. “Thế không sợ sao?” - Tôi hỏi. 2 chị em trả lời dấm dẳng: “Sao lại không sợ? Mưa gió như thế, chống ghe đi 2 cây số như đang đi giữa biển cả,  đàn ông con trai c̣n sợ huống hồ là con gái, nhưng chẳng lẽ lại bỏ học à?  Rồi cũng quen hết”. Chúng tôi về vùng Càng…
 
Mênh mang vùng Càng
Ông lăo lực lưỡng h́ hục khởi động chiếc thuyền máy, miệng rít lấy rít để điếu thuốc lá to đùng cho đỡ lạnh rồi thủng thẳng: “Cả huyện Hải Lăng này có tất cả 7 Càng nằm ở 4 xă (Càng Câu Nhi của xă Hải Tân, Càng An Thơ, An Nhơn, Hội Điền của xă Hải Hoà. Càng Cây Da của xă Hải Thọ và Càng Trung Đơn của xă Hải Thành). Càng nào cũng thấp hơn mực nước biển ít nhất 0,7 mét và đều… nghèo”.  Mùa mưa lũ, 7 Càng là 7 ốc đảo nằm chơ vơ giữa biển nước mà phương tiện giao thông duy nhất khả dĩ có thể đi lại giữa trung tâm huyện với các Càng là thuyền máy… Chiếc thuyền máy rung lên bần bật rồi cḥng chành len lỏi giữa những đám bèo và rác bẩn đưa chúng tôi về với Càng Cây Da (Hải Thọ). Ở trên bờ, từng đoàn học sinh đang í ới gọi nhau đội mưa đến chúc mừng các thầy cô nhân ngày 20/11…
 
Càng Cây Da đón chúng tôi bằng những khuôn mặt lam lũ chợt rạng ngời khi thấy các đồng chí cán bộ xă chuyển những thùng ḿ tôm cứu trợ lên khu vực nhà thờ, địa điểm duy nhất không bị ngập lụt ở Càng Cây Da. Trưởng thôn Trần Dũng vừa nhanh tay chia ḿ tôm cho dân vừa phác thảo cho chúng tôi bức tranh toàn cảnh khá ảm đạm của cư dân vùng Càng: Mỗi năm khoảng 3 tháng người dân vùng Càng phải sống trong cảnh ngập lụt, đi lại chỉ có phương tiện duy nhất là ghe. Ruộng ít, lại thường xuyên bị ngập lụt nên hạt lúa không được bao nhiêu, chăn nuôi gia cầm th́ nhỏ lẻ, đánh bắt cá tự nhiên th́ bấp bênh. Tóm lại là nghèo và… đông con. Học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 th́ học lớp ghép tại chỗ nên chất lượng cũng không mấy sáng sủa, những học sinh may mắn học lên cấp II, III về nhà cứ kêu trời v́ không theo kịp với bạn bè. Hèn ǵ mỗi khi chúng tôi hỏi về t́nh h́nh học tập, những đứa trẻ ở Càng Cây Da cứ rụt rè lảng tránh. Bỗng dưng tôi thấy ḿnh thật vô tâm, sao cứ đi hỏi măi một điều mà ai cũng biết nhưng không ai muốn nói ra?
 
Nhưng cũng có cái để mừng. Đi qua hết 36 hộ dân ở Càng Cây Da tôi mới nhận ra một điều rằng, trên tất cả sự nghèo khổ và khó khăn về nhiều mặt, những người làm cha làm mẹ ở vùng Càng vẫn nung nấu khát vọng cho con đi học và những học sinh vùng Càng vẫn sẵn sàng vượt gió, vượt lũ để đến trường. Anh Nguyễn Tôn (Bố của Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Tha) nói chắc nịch: “Nghèo th́ ở đây ai cũng nghèo, c̣n đông con th́ có lẽ tui đông nhất nhưng đứa nào muốn đi học tui cũng cho đi hết. Sau này có ít chữ nghĩa, thoát ra khỏi vùng Càng chúng nó mới mở mày mở mặt được chứ cứ cắm mặt vào mấy sào ruộng trũng và mấy con cá đồng th́ cả đời cũng như… tui là cùng”. Anh Tôn có tất cả 10 đứa con, 3 đứa đầu một học lớp 12, đứa lớp 5, đứa lớp 6 th́ nằng nặc xin nghỉ học đi làm công nhân để dành phần đi học cho các em, cộng với một đứa chưa đến tuổi đến trường, vậy là c̣n 6 đứa đi học. 2 tháng nay nước ngập, đứa nào học cấp II th́ chống ghe đi học , mấy đứa học cấp I th́ ở nhà giở sách ra chơi tṛ đố nhau, chờ ngày nước rút. Ở gần nhà anh Tôn, anh Trần Khánh có số con bằng đúng nửa số con anh Tôn nhưng cũng có 4 đứa đang đi học, đứa đầu mới chỉ học lớp 3. 2 tháng nay nước rút, mấy đứa trẻ không đi học được nên hàng ngày rủ nhau ra trước hiên nhà ngồi nghịch nước. Chúng chưa đủ lớn để hiểu rằng, phải nghỉ học dài ngày như vậy là nên vui hay nên buồn? Anh Khánh nói chua chát: “Trước cũng có người về hỏi rằng lũ lụt như thế sách vở bọn trẻ có ướt át ǵ không? Tôi bảo, không. Nghèo quá, nhà có ǵ đâu, muốn thiệt hại cũng chẳng có ǵ mà thiệt hại”.
 
… Chiếc thuyền vừa nổ máy đưa chúng tôi rời khỏi vùng Càng trở lại với trung tâm huyện thị chợt dừng lại bởi một đoàn hơn chục học sinh tíu tít ùa ra xin đi nhờ. Mặt mày đứa nào cũng ướt đầm đ́a, tím tái, tay ôm khư khư một bịch to đùng chỉ toàn quần áo, sách vở và ḿ tôm. Trần Thị Yến, một trong những học sinh trên, ngồi co ro bên mạn thuyền, bảo: “Cứ đến mùa nước lên là cha mẹ bọn cháu lại gom góp tiền thuê nhà ở thị trấn để bọn cháu lên trọ học, nước rút lại về. Năm nào cũng vậy thành ra quen rồi, cứ đến mùa này là bọn cháu lại khăn gói di cư…”. Di cư, di cư…câu nói được nói ra bởi một học sinh nghèo chạy lũ chỉ để đi học khiến chúng tôi không khỏi chạnh ḷng. Giữa mênh mang nước bạc, con thuyền nghiêng ngửa như chiếc lá giữa trùng khơi, lời của Yến như vỡ vụn ra theo từng con sóng vỗ ́ oạp vào mạn thuyền. Đằng sau, Càng Cây Da mờ dần, mờ dần rồi ch́m nghỉm giữa biển nước…
Thúy An Báo Quảng Trị

Ư kiến phản hồi
Tên người gửi:
Email:
Địa chỉ:
Nội dung  :
Mă bảo vệ : Verify Code
 


Các tin khác
•  TP1.4. Hồi âm loạt bài: “Cần làm rơ nguyên nhân cái chết của hai trẻ em ở Hà Giang” (25/07/2008)
•  TP1.3. Bài 3: Những t́nh tiết đầy mâu thuẫn (25/07/2008)
•  TP1.2. Bài 2: Giọt nước mắt của hai người mẹ trẻ (25/07/2008)
•  TP1. Cần làm rơ cái chết của hai trẻ em ở Hà Giang:Bài 1: Lá đơn của hai người cha mù chữ (25/07/2008)
•  TP2. Khi gia đ́nh là nỗi sợ (25/07/2008)
•  TP3. Hành tŕnh A, B, C… (25/07/2008)
•  TP4. Lao động trẻ em ở vùng mỏ quặng sắt (25/07/2008)
•  TP9. Hot teacher của chúng ḿnh (21/07/2008)
•  TP10. Mẹ & con cùng chơi (15/07/2008)
•  TP11. Băng cướp là bạn tôi (15/07/2008)
TP5. Cho trái tim em được hồi sinh
TP6. “Năn tui mí” - hủ tục không thể để tồn tại
TP8. Cân bằng âm dương trong lĩnh vực giáo dục
TP12. Bao giờ em được đến trường?
TP13. Kiếm tiền nuôi mẹ
TP14. Những mầm xanh trên đỉnh Lả Nh́ Thàng
TP15. Những thiên thần bị vứt bỏ
TP16.1. Bẫy t́nh tuổi teen (Vị thành niên bị ép nếm "trái cấm")
TP16.2. Bài 2: Cơn ác mộng của cậu học sinh lớp 10
TP16.3. Bài 3: Bi kịch của một nữ sinh
TP16.4. Thoát khỏi ám ảnh và kết thúc có hậu
TP16.5. Làm ǵ để tránh bẫy t́nh tuổi teen
TP 17.Tổ ấm Mai Sơn
TP18.3. Những đứa trẻ khi không c̣n “lá chắn”…
TP 18.2.Những cảnh đời khác nhau…